Đại Cương Triết Học Phật Giáo

Tập Thứ Nhất: Tự Luận

Phần 3: Kinh Điển Của Phật Giáo

Sau khi Đức Thích-ca nhập niết bàn, tôn giả Đại Ca-diếp (Mahakasyapa) đốc thúc tất cả chúng tăng để kết tập những diều di giáo của Ngài, đó là một công việc trọng yếu nhất. Tôn giả đã từng đưa kiến nghị với các tỳ-kheo, muốn nhóm chúng tăng để đọc tụng những lời Phật dạy mà quy tập lại. Bấy giờ có vua A-xà-thế (Ajatasatru) nước Ma-kiệt-đà (Magadha) đã tận tâm giúp đỡ việc ấy. Hồi đó ở phía nam thủ đô thành Vương-xá (Rajagrha), trong hang Tất-ba-la (Vebhara-gutha), người ta đã chọn được 500 vị tỳ-kheo vẹn toàn tài đức và suy tôn ngài Đại Ca-diếp làm lãnh tụ, còn ngài A-nan (Ananda) đọc lại kinh tạng, ngài Ưu-ba-ly (Upali) đọc lại luật tạng. Đó là kết tập lần thứ nhất.

Sau cuộc kết tập trên độ 100 năm, tại kinh thành Tỳ-xá-ly (Vaisali) lại có 700 vị tỳ-kheo kết tập kinh điển. Đó là kết tập lần thứ hai. Nhưng cuộc kết tập này chỉ là giảo chính mười điều (6) dị thuyết trong giới luật, khác hẳn tính cách của những cuộc kết tập khác.

Lại hơn 100 năm, nghĩa là thời đại vua A-dục (Asoka), một vị quốc vương rất tôn sùng Phật giáo. Vì nhận thấy giữa các giáo đồ Phật giáo và Bà-la-môn luôn xảy ra các cuộc tranh luận, nên ngài muốn thi hành việc kết tập kinh Phật lại để bồ cứu mối tệ ấy. Nhân đó, tại kinh thành Hoa Thị, quốc vương tập họp 1000 vị tỳ-kheo có đủ tài đức và suy tôn ngài Mục-liên-đế-tu (Moggaliputta tissa) làm lãnh tụ. Đó là kết tập lần thứ ba. Từ đó, trong Phật giáo mới có đủ ba tạng (Tripitaka):  Kinh  tạng (Sutrapitaka), Luật tạng (Vinayapitaka) và Luận tạng (Abhidharmapitaka).

300 năm sau, tại miền tây bắc Ấn Độ, có vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska) ra đời. Vị quốc vương này tận tâm với Phật giáo cũng như vua A-dục. Tại đô thành Ca-thấp-di-la (Kasmira), quốc vương triệu tập 500 vị A-la-hán (Arhat), 500 vị Bồ-tát (Bodhisattva) và 500 học giả tại gia, suy tôn ngài Hiếp Tôn Giả (Parsva) và ngài Thế Hữu (Vasumitra) làm lãnh tụ, để kết tập những lời giáo huấn của Đức Phật. Đó là kết tập lần thứ tư.

Kinh Phật sau khi trãi qua 4 lần kết tập, nội dung thật phong phú, sách vỡ cũng rất nhiều; đời sau lại còn tăng mãi. Cho nên kinh tạng đang lưu truyền hiện giờ có 5000 quyển, hoặc 7000 quyển, hoặc 8000 quyển. Hầu hết các tôn giáo khác trên thế giới, kinh điển không thể nhiều như kinh Phật mà chúng tôi vừa kể trên.

Kinh Phật kết tập lần đầu tiên người ta theo một thể thức hội tụng, vẫn chưa từng dùng cách viết chép. Nghĩa là nhóm nhau độ vài trăm người trong một tòa nhà rồi cùng nhau khám định và đọc lại những lời Phật dạy để lưu truyền. Bởi vì tập tục của thời đó có phái cho rằng cách viết chép là làm mất giá trị của thần thánh, vì thế người ta chỉ dùng cách truyền khẩu. Đôi khi cũng vì còn thiếu những khí cụ viết chép mà phải như thế. Chẳng hạn như tình trạng đời xưa ở Trung Hoa, vì chưa có giấy bút nên các nhà làm sách đời Lưỡng Hán đều dùng cách truyền khẩu. Nhưng qua đến những cuộc kết tập thời vua A-dục và vua Ca-nị-sắc-ca người ta dùng cách viết chép. Người ta ghi chép bằng hai thứ tiếng khác nhau, đó là tiếng Ba-lỵ (Pali) và tiếng Phạn (Sanskrit).

Kinh Phật bằng tiếng Ba-lỵ thì lưu hành qua phương nam. Thời vua A-dục có vị vương tử là Ma-hê-đà (Mahendra) đến nước Tích-lan (Ceylon) truyền giáo, được quốc vương nước ấy phát tâm tín ngưỡng rất mạnh. Ngài đã cúng khu vườn Mi-già và lập tinh xá để chúng tăng cư trú, về sau thành một cảnh chùa rất nguy nga đồ sộ. Những kinh điển vương tử Ma-hê-đà được truyền vào Tích-lan là đã trãi qua cuộc kết tập lần thứ ba và ghi chép bằng thứ phương ngôn phổ thông của Ấn Độ, về sau gọi là tiếng Ba-lỵ.

Vào khoảng thế kỷ thứ nhất, tại xứ Vô Úy nước Tích-lan, khi vua Ba-đà-già-ma-ni lên ngôi, lòng tin Phật cũng rất mạnh, nên nhà vua đã xây dựng một cảnh chùa tại núi Vô Úy (Abhayagiri) để cúng dường chúng tăng. Về sau, vì phái này với phái trước kia (Mi-già) chia rẽ nhau, mỗi phái cố chấp một tà thuyết. Bấy giờ quốc vương mới triệu tập 500 vị đại đức tỳ-kheo, căn cứ vào ba tạng khẩu truyền bằng tiếng Ba-lỵ, đính chính cẩn thận rồi chép vào sách. Tại Tích-lan, kinh Phật bằng tiếng Ba-lỵ bắt đầu từ đó đã thấy có sự viết chép. Nhưng phần chú thích người ta vẫn ghi chép bằng thứ thổ âm của Tích-lan, còn cách biên chép thì theo tục lệ Ấn Độ, dùng lá cây Bối-đa-la (Pattra) lấy kim chích thành văn tự cả hai mặt rồi nhuộm mực, có thể để lâu đời không phai nhạt.

Đến đầu thế kỷ thứ 5, có ngài Phật-âm (Buddhaghosa) người xứ trung Ấn Độ đến Tích-lan, lại đem phần chú thích tam tạng chép thành tiếng Ba-lỵ. Ở Tích-lan, kinh Phật bằng tiếng Ba-lỵ đến đây mới hoàn thành. Vì thế, các học giả gần đây dều tôn xưng ngài Phật-âm là vị giáo tổ thứ hai của Phật giáo Tích-lan. Như thế, chúng ta có thể nhận thấy lòng tôn sùng của họ ra thế nào.

Trong phái quý tộc Ấn Độ lại có sẵn một thứ nhã ngữ đã lưu hành, gọi là thứ tiếng học vấn hợp với vận luật của Phệ-đà. Khi Đức Phật ở đời thuyết pháp, đối với bốn giai cấp, Ngài đều bình đẳng thí pháp, cho nên không thu dụng thứ nhã ngữ ấy. Nhưng sau khi Phật niết-bàn khoảng 100 năm, có ông Ba-nhĩ-ni (Panini) là một nhà văn pháp học, đem thứ nhã ngữ ấy quy định lại rất rõ ràng, lưu thông thực tiện lợi. Nhân đó, Phật giáo đồ cũng thu dụng thứ tiếng ấy để biên chép kinh Phật. Vậy, kinh Phật bằng tiếng Phạn và bằng tiếng Ba-lỵ, thứ nào trước, thứ nào sau? – Điều đó ta không tìm được bằng chứng. Nhưng xét về khu vực lưu hành của nó thì ta thấy rõ ràng không đồng nhau. Như kinh Phật bằng tiếng Phạn, một phần lớn là lưu truyền qua miền bắc. Từ bắc Ấn Độ truyền đến Tây Vực, Tây Tạng truyền đến Trung Hoa rồi kết thành một hệ thống Phật giáo phương bắc.

Kinh Phật bằng tiếng Phạn, đại khái dến đời vua Ca-nị-sắc-ca mới được hoàn bị. Tương truyền rằng việc giám định tam tạng hồi đó, nếu thứ nào không có bản truyền lại thì người ta chép thành bản mới; thứ nào đã có sẵn người ta cũng giảo chỉnh lại. Những bản viết bằng văn Phạn đến bấy giờ rất hoàn bị. Tại Trung Hoa, kinh Phật bắt đầu từ Tây Vực (Cina) truyền đến là đã có ngay bản chữ Phạn. Dọc theo miền Ni-bá-nhĩ (Nepal) có những bản kinh truyền lại rất nhiều, nhưng sự kết cấu của những bản ấy không hoàn bị bằng tam tạng tiếng Ba-lỵ, cho nên chúng ta không thể khảo cứu được.

Vào khoảng thế kỷ thứ 7, vị quốc vương Tây Tạng (Tibet) là Song-tán-tư-cam-phổ lên ngôi, một người rất tín ngưỡng Phật giáo. Người sai một đại thần là Đoan Mỹ Tam-bồ-đề đến Ấn Độ để cầu học, vị ấy lưu học tại xứ Nam Thiên Trúc 7 năm và mang rất nhiều kinh sách về nước. Khi ấy, vị đó căn cứ vào tiếng Phạn viết theo văn tự Tây Tạng mà phiên dịch các kinh điển. Đó là mở đầu của kho kinh Phật tại Tây Tạng trong hệ thống bắc phương Phật giáo.

Sau đó, Phật giáo rất thịnh hành, người ta định lập thành quốc giáo. Các vị cao tăng Ấn Độ đến Tây Tạng truyền giáo cũng chuyên về việc phiên dịch kinh điển. Lại có những kinh điển Trung Hoa dịch thành Hán văn, người ta cũng dịch lại văn tự Tây Tạng.

Hiện giờ kinh Phật ở Tây Tạng người ta chia làm hai loại:

  • Một là Cam-thù-nhĩ (Kanjur), có nghĩa là Phật dạy, biên tập tất cả kinh và luật, gồm có 108 sách lớn.
  • Hai là Đơn-thù-nhĩ (Tanjur), có nghĩa là lý luận, biên tập những thứ biện luận và trước tác, gồm có 225 sách.

Kinh điển của Tây Tạng thì lưu hành ở Trung châu Á. Vào khoảng thế kỷ 13, vua Thế Tổ nhà Nguyên là Hốt-tất-liệt xâm nhập Tây Tạng, thu dụng Lạt-ma giáo (Lamaisme) và phong cho Phát-tư-ba làm quốc sư. Vâng lệnh quốc vương, ngài mới chế ra thứ chữ Mông Cổ, rồi căn cứ vào kinh Phật của Tây Tạng mà dịch thành đại tạng kinh bằng tiếng Mông Cổ.

Nước Trung Hoa bắt đầu từ đời Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (kỷ nguyên 6, 7 năm) có 2 vị sư là Ca-diếp Ma-đằng (Kasyapa-matanga) và Trúc-pháp-lan từ Ấn Độ đến. Hai vị ấy lưu trú tại chùa Bạch Mã, tỉnh Lạc Dương, bắt đầu dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương và kinh Thập Địa Đoạn Kết. Về sau, các triều đại khác đều lấy việc phiên dịch kinh Phật làm sự nghiệp.

Đến cuối đời Hán (giữa thế kỷ thứ 2), lại có ngài Chi-lâu-ca-sấm từ nước Nguyệt Chi (Kusana) đến, phiên dịch các kinh Ban-châu-tam-muội … tất cả hơn 20 bộ. Ngài An-thế-cao từ nước An-tức (Parasi) đến, cũng phiên dịch kinh điển hơn 90 bộ. Thời Tam quốc (giữa thế kỷ thứ 3), có ngài Khương-tăng-hội, đời Tây Tấn (cuối thế kỷ thứ 3), có ngài Trúc-pháp-hộ (Dharmaraksa), đều là những vị chuyên môn dịch kinh truyền đạo. Đó là sự nghiệp dịch kinh của thời kỳ đầu tiên.

Đến đời Phù Tần, sự nghiệp dịch kinh rất thịnh, gồm có những vị như Tăng-già-bạt-trừng (Samgha-varti), Tăng-già-đề-bà  (Samghadeva), Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi), phần nhiều phiên dịch các kinh luận về Tiểu thừa. Rồi đến đời Tấn, niên hiệu Hoài Đế (đầu thế kỷ thứ 4), có ngài Phạt-đồ-trừng (Buddhacinga) từ Tây Vực đến Lạc Dương, và môn đồ của ngài như Đạo An, Pháp Hòa, đều là những bậc tinh thông tiếng Phạn, giúp sức với ngài để dịch kinh truyền đạo.

Đời Diêu Tần (dầu thế kỷ thứ 5), có ngài Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) từ nước Quy-tư (Kuche) đến, cùng lập cơ sở dịch thuật tại Trường An, dịch đủ các thứ kinh, luận Đại-thừa-bát-nhã và kinh Pháp hoa. Đồng thời ngài Đàm-vô-sấm (Dharmaraksa) ở Bắc Lương cũng dịch kinh Đại-bát-niết-bàn, mở mang một cơ vận thịnh hành cho giáo nghĩa đại thừa.

Đến đời vua Hiếu Võ nhà Tấn (cuối thế kỷ thứ 4), tại Lô Sơn, ngài Huệ Viễn bắt đầu xướng lập giáo phái Tịnh Độ niệm Phật. Đồng thời, ngài Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra) cũng đến tại Kiến Khương, dịch kinh Lục thập hoa nghiêm. Đó là sự nghiệp dịch kinh của thời kỳ thứ hai.

Thời Lục triều (giữa thế kỷ thứ 5) sự nghiệp dịch kinh cũng rất thịnh, đời Tống có ngài Cầu-na-bạt-đà-la (Gunabhadra), đời Lương có ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruchi), đời Trần có ngài Chân Đế tam tạng (Paramartha), phiên dịch kinh luận và truyện ký gồm có 64 bộ. Đó là sự nghiệp dịch kinh của thời kỳ thứ ba.

Kinh điển của thời kỳ thứ nhất và thứ hai đại khái đều là những nguyên bản từ Tây Vực truyền đến. Trong đó, hoặc chỉ truyền miệng, hoặc có bản chép, đều dùng bằng tiếng Hồ (thứ tiếng của Tây Vực). Cho nên những kỳ này, người ta chỉ có phiên dịch lại, dù cho có bản chữ Phạn, cũng đã trãi qua nhiều lần cãi cách của người Tây Vực. Còn như văn dịch, hoặc dịch sát, hoặc dịch ý, cũng co nhiều sự thay đổi. Đến thời kỳ thứ ba, mới có rất nhiều nguyên bản từ Ấn Độ truyền đến và dịch thuật dần dần cũng được hoàn bị.

Đến đời Đường, niên hiệu Trinh Quán (giữa thế kỷ thứ 7), ngài Huyền Trang tam tạng thân hành đến Ấn Độ, trãi qua 110 nước và lưu học được 17 năm. Sau khi về nước, ngài mới tẩy trừ các mối tệ lủng củng giữa Hoa và Phạn từ trước, cải cách phương pháp dịch thuật và dịch các kinh, luận được 76 bộ, 1347 quyển. Ngài là người mở đầu một kỷ nguyên mới trên lịch sử dịch kinh. Bấy giờ, người ta gọi những kinh văn của ba thời kỳ trước là cựu dịch; những kinh văn từ ngài Huyền Trang về sau là tân dịch. Sách vở của ngài Huyền Trang đã trước tác, nổi tiếng nhất là bộ Đại Đường Tây Vực ký, gồm có 14 quyển. Ngoài ra, còn có ngài Nghĩa Tịnh tam tạng (cuối thế kỷ thứ 7) du lịch đến Ấn Độ 25 năm, cũng có viết bộ Nam Hải ký quy nội pháp truyện, gồm có 4 quyển.

Thời Khai Nguyên (giữa thế kỷ thứ 8), lại có ngài Thiện Vô Úy (Subhakarasimha) từ Tây Thiên Trúc đem chân ngôn Mật giáo đến Trung Hoa. Sau đó, lại có hai thầy trò Kim Cang Trí (Vajrabodhi) và Bất Không (Amoghavajra) từ Nam Thiên Trúc đến Trung Hoa, cũng phiên dịch những kinh điển về Mật giáo.

Đời Tống Thái Tổ (giữa thế kỷ thứ 10) nhà vua đã từng nhờ 300 vị sa-môn đến Ấn Độ để cầu xá lợi và những bản kinh chữ Phạn. Sau đó, các vị Tăng-già từ Ấn Độ và Tây Vực đến Trung Hoa, những người cầu pháp từ Trung Hoa đến Ấn Độ ngày càng nhiều. Sự giao thông qua lại rất tiện, nhân đó, sự nghiệp dịch kinh cũng được thịnh hành thêm.

Hơn nữa, vua Tống Thái Tổ còn noi gương đời Thịnh Đường, muốn hoằng dương Phật Pháp. Vào khoảng niên hiệu Khai Bảo năm thứ 4, ngài sai ông Trương Tùng Thiện đến Ích Châu để điêu khắc đại tạng kinh. Đến triều Thái Tôn, niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 8 (cuối thế kỷ thứ 10), nghĩa là trãi qua 13 năm bản kinh mới thành. Đó là Thục bản tạng kinh (kho kinh khắc bản tại nước Thục).

Thục bản đã thành, từ đó sự nghiệp ấn khắc kinh tạng lại được người ta tiếp tục xây dựng. Tại nước Khế Đơn, người ta cũng san hành Quan bản tạng kinh (kho kinh do các quan phát tâm khắc bản); sau Thục bản độ 50 năm về đời vua Hưng Tông (1031-54 kỷ nguyên Tây lịch), đến đời vua Đạo Tông bản kinh mới hoàn thành và đem bản ấy qua Cao Ly.

Tại Cao Ly có hai lần khắc bản tạng kinh. Lần thứ nhất từ đời vua Hiển Tông đến vua Văn Tông (1020-1070 kỷ nguyên Tây lịch); người ta căn cứ vào Thục bản, trãi qua 4 triều vua, mất một thời gian 60 năm bản kinh mới hoàn thành; gồm có 570 hòm, 5924 quyển. Đó là ngoài bản đời Tống người ta còn thêm vào những thứ mà bộ sách Trinh Nguyên lục đã thu thập. Bản kinh này về sau bị giặc Mông Cổ phá hoại tất cả.

Đến đời vua Cao Tông năm thứ 23 (1236 kỷ nguyên Tây lịch) vị quốc vương này cũng đem hết lực lượng của nước nhà để trùng hưng việc điêu khắc tạng kinh. Bấy giờ, tạng kinh Cao Ly có cả cựu bản đời Tống, tân bản của Khế Đơn và bản trong nước mới khắc. Tất cả bản ấy đều được người ta đem ra hiệu đính rất kỹ lưỡng, kiểm duyệt 15 năm mới thành một bản rất tinh, tức là tạng kinh Cao Ly có tiếng nhất hiện giờ đang được lưu hành. Nội dung của tạng kinh này gồm có 639 hòm, 6227 quyển.

Nhà Nguyên quốc vương cũng căn cứ vào bản đời Tống mà ấn hành tạng kinh. Nhưng cuối đời Nguyên thì thiên hạ bị đại loạn nên tạng kinh ấy bị thất lạc cả.

Đến đời Minh Thái Tổ, niên hiệu Hồng Võ thứ 5 (1372 kỷ nguyên Tây lịch) cũng vân tập các vị đại đức tại Tường Sơn để kiểm hiệu tạng kinh và khắc lại bản Nam tạng. Nhưng sự hiệu đính không được tinh tế lắm, nên còn nhiều chổ sai lầm. Vua Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 18 (1420 kỷ nguyên Tây lịch) tại Bắc Bình, người ta cũng khắc lại Bắc tạng. Đến đời vua Anh Tông, niên hiệu Chính Thống thứ 5 (1440 kỷ nguyên Tây lịch) bản kinh mới hoàn thành. Kỳ này gồm có 636 hòm, 6361 quyển. Tuy người ta đã giảo chính những chổ sai lầm của Nam tạng, nhưng kỳ này vẫn chưa phải là một bản kinh hoàn mỹ.

Đời Thanh Thế Tông, niên hiệu Ung Chính thứ 13 (1735 kỷ nguyên Tây lịch) người ta lại dùng Bắc tạng làm bản chính và thêm những loại sách mới vào mà san hành lại Long tạng. Đến đời Cao Tông, niên hiệu Càn Long thứ 3 (1738 kỷ nguyên Tây lịch) bản kinh mới hoàn thành. Kỳ này gồm có 735 hòm, 7838 quyển.

Đến năm cuối của đời Lương thì Phật pháp lưu hành qua Nhật Bản phương Đông. Vì ngay từ thời Đại Đường, thời Tống đã có các nhà sư Nhật lưu học ở Trung Hoa và mang nhiều kinh sách về nước. Đến niên hiệu Khoan Vĩnh thứ 14 (1637 kỷ nguyên Tây lịch) có các ngài như Tăng Chính, Thiên Hải, nhờ sự ngoại hộ của ông Đức Xuyên mà được hoàn thành bản Đại tạng kinh, lấy biệt hiệu chữ “Hoạt”, thông thường gọi là bản kinh Thiên Hải.

Đến thời đại vua Minh Trị (1880-1885 kỷ nguyên Tây lịch) thì có thư viện Hoằng giáo, người ta cũng san hành Súc loát tạng kinh. Ở đây, người ta lấy tạng Cao Ly làm bản chính và lấy 3 bản kinh của Tống Nguyên Minh để hiệu đối chổ đồng dị, sửa sang cú pháp. Kỳ này gồm có 40 pho, 8534 quyển. Bản kinh này người ta hiệu đính tinh tường, rất tiện lợi cho các học giả.

Sau đó, lại có thư viện Tạng kinh, người ta khắc lại Chính tục tạng kinh, lấy biệt hiệu chữ “Vạn”; trong Tục tạng kinh này phần nhiều có những pho đã lâu của Trung Hoa từ đời Đường đến giờ, cho nên nó là một kho kinh rất quý báu.

Gần đây, người ta lại san thành Đại chánh nhất thế kinh, phương thức biên tập và hiệu đính cũng có nhiều chổ cách tân. Kỳ này, người ta tổng kê được 55 hòm, 2236 bộ, 9006 quyển.

(theo bản tóm lược về Phật giáo của Tưởng Duy Kiều biên soạn năm 1958)


Mời quý vị đón đọc phần 4: Phân phái của Phật giáo

No Comments Yet

Comments are closed

Just a simple blog about a married couple.