Đại Cương Triết Học Phật Giáo

Tập Thứ Nhất: Tự Luận

Phần 1: Nguồn Tư Tưởng Ấn Độ Trước Phật Giáo

Trước đây độ trên bốn ngàn năm, dân tộc xưa nhất của Ấn Độ là giống người Nhã-lỵ-an (Aryan), từ vùng trung nguyên Á-tế-á họ di cư qua miền Tây Bắc Ấn Độ (India). Sau đó lại dọc theo dãy núi Tuyết (Himalaya) rồi vào ở tại lưu vực sông Hằng (Ganges). Nhằm chổ khí hậu ấm áp, thời tiết điều hòa, sản vật rất phong phú. Dân tộc ấy được sống an nhàn vui vẻ, họ hết lòng cảm tạ ân huệ của thiên nhiên; vì thế đối với bầu trời man mác, tâm họ có một ý niệm tín thành sùng bái. Đó là lý do người ta đã sáng tác những nghi thức thánh ca – ca tụng thần thánh – là Lê-câu Phệ-đà xưa nhất trên lịch sử thế giới.

Dân tộc ấy quan niệm rằng, mọi ánh sáng giữa bầu trời đều là những phẩm cách thần thánh; vì vậy họ sùng bái những hiện tượng sáng suốt như mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, làn chớp … tin tưởng cả mọi phương diện. Mục đích sùng bái của họ không ngoài lòng dục vọng sinh tồn của bản thân xui khiến; cho nên mới có những việc trừ tai và cầu phúc; cũng do đó mà người ta đặt ra những nghi thức cúng tế, ca tụng thần thánh. Nghi thức đã nhiều thì không thể ai cũng thông thạo cả, phải có người chủ chốt việc tế tự, nhân đó mới sản sinh ra một hạng tăng lữ, về sau thành chủng tộc Bà-la-môn.

Phệ-đà (Veda) Trung Hoa dịch là Trí luận (kinh sách trí tuệ); Bà-la-môn (Brahmana) Trung Hoa dịch là Tịnh hạnh (phái tu hành thanh tịnh). Kinh điển tế tự thánh ca của Bà-la-môn truyền lại gồm có bốn thứ:

1 – Lê-câu Phệ-đà (Rig Veda) biên tập những bài thánh ca trong tôn giáo. Gồm có 10 quyển, 1017 thiên, 10.580 bài tụng.

2 – Dạ-du Phệ-đà (Yajur Veda) biên tập những nghi thức thánh ca, những bài chú văn tế tự bốn mùa dùng toàn bằng tản văn và giải thích nghi thức,  

3 – Sa-ma Phệ-đà (Sama Veda) biên tập những bài âm nhạc kệ tụng có liên quan với nghi thức tế tự, gồm có 1.549 bài tụng.

4 – A-thát-bà Phệ-đà (Atharva Veda) biên tập những bài thần chú dương tai cầu nguyện và tu tập.

Bốn thứ sách này người ta gọi chung là Tứ Phệ-đà thánh điển. Đó là một hệ thống tư tưởng về đời xưa của Ấn Độ. Veda cũng dịch là Minh luận hay Minh trí; nghĩa là thuyết minh sự thực và phát sinh trí tuệ.

Đến thời vận cuối của Phệ-đà, dân tộc Nhã-lỵ-an lại lần lượt cùng nhau dời xuống miền nam, rồi chia thành năm xứ Ấn Độ – dân tộc ấy di cư đến những lưu vực của năm con sông (Panjab) Ấn Độ, nhân đó mà có năm xứ Ấn Độ – Vì sự thay đổi về phong thổ, nên trên tư tưởng của con người cũng có nhiều điều biến thiên; đối với vũ trụ dần dần họ rời khỏi phạm vi thần thoại và muốn tìm hiểu nguyên nhân trọng đại của nó. Bấy giờ có phái căn cứ vào kinh điển của Phệ-đà và mở mang thêm cho có hệ thống, chủ trương rằng: “Phạn” – Brahma – là nguồn gốc của tất cả muôn loài, đó là phái triết học Ưu-ba-ni-sa-sĩ (Upanisad), lối lập thuyết của họ rất u vi và thần bí (mysticisme). Cũng có phái thoát ly ngoài tư tưởng của Phệ-đà, lại chủ trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự nhiên (Philosophie naturelle). Trong học phái này, thuyết minh về vật chất cụ thể của vũ trụ thì có Địa luận, Phục thủy luận, Hỏa luận và Phong tiên luận; tiến thêm một bước nữa, thuyết minh về trừu tượng thì có Thời luận, Phương luận và Hư không luận nối nhau mà xuất hiện.

Trong các phong trào tư tưởng trên, hoặc dung hòa cùng nhau, hoặc xung đột lẫn nhau. Một mặt người ta chủ trương tự do khảo cứu; một mặt khác người ta chỉ kế thừa tư tưởng của Phệ-đà. Vì thế mà chia ra làm nhiều phái khác nhau làm cho nguồn tư tưởng của Ấn Độ lâm vào tình trạng rất lộn xộn.

Những vai trọng yếu của các phái ấy thông thường gọi là lục đại học phái. Trong đó có phái dựa theo phái chánh thống của Phệ-đà và căn cứ vào luận thuyết Ưu-ba-ni-sa-sĩ, họ chủ trương rằng “Phạn” là một thứ biểu hieejveef tinh thần, không phải là vật chất mà là năng lực. Thế giới này do “Phạn” mà có muôn vàn sai khác. Nếu chúng ta rời khỏi mọi sự sai khác ấy để trở về nơi nguồn gốc bình đẳng thì sẽ được giải thoát. Đó là phái Phệ-đàn-đa (Vedanta).
Lại có phái tuy cũng kế thừa phái chánh thống của Phệ-đà, nhưng dựa theo tư tưởng tôn trọng giáo quyền, cho nên họ chủ trương phải giải thích và bảo tồn nghi thức trong tôn giáo. Đó là học phái Di-man-tát, tức là Thanh thường trú luận. 

Phản kháng thuyết Thanh thường trú ấy và bảo rằng thanh âm vô thường là lối chủ trương của học phái Ni-dạ-gia. Đó là Nhân minh luận (Hetuvidya).

Cũng có phái phản đối Hữu thần luận, kế thừa lý tưởng của phái triết học tự nhiên, rồi đề xướng lên thuyết Duy vật đa nguyên. Họ dùng sáu cú nghĩa – hay sáu yếu tố – thực (Dravya), đức (Guna), nghiệp (Karman), đại hữu tánh, đồng dị tánh (Samanyavisesa), hòa hợp tánh (Samavaya) (1) mà thuyết minh nguyên lý đã mở mang thành vũ trụ. Đó là Phệ-thế-sư (Vaisesika) cũng gọi là phái Thắng luận (Vaisesika sastra)

Lại có phái dung hòa cả hai tư tưởng Hữu thần và Duy vật mà cấu tạo thành một học thuyết của mình. Đó là Tăng-khư-gia (Samkhya) cũng gọi là phái Số luận (Kapila) Theo phái này thì nguồn gốc của vũ trụ vẫn không ngoài Thần ngã là nguyên lý tinh thần và Tự tánh là nguyên lý vật chất. Do hai nguyên lý Thần ngã (Purusa) và tự tánh (Prakrti) ấy kết hợp mà sinh ra 23 đế (2) là đại (Mahat, Buddhi), ngã (Ahamkara), ngũ duy (Tanmatra), ngũ đại (Mahabhuta), ngũ trí căn (Buddhindriya), ngũ tác căn (Karmendriya) và tâm căn (Manas) là thứ tự mở mang thành vũ trụ. Đó là Minh nhị nguyên luận.

Ngoài năm phái trên, còn có phái Du-già (Yoga) gọi chung là sáu phái đại triết học. Du-già là tương ứng, nghĩa là phái này chủ trương trầm tư mặc tưởng để đạt đến mục đích “Ta” với “Thần” được tương hợp thông cảm cùng nhau (Đây là một phương pháp tu định để cầu được xuất thần mà thông linh với các thần thánh).

Sáu đại học phái trên, về niên đại phát khởi và thành lập của chúng thì có nhiều thuyết khác nhau, cho nên ta không thể đoán định được. Nhưng thông thường người ta vẫn bảo nguồn tư tưởng Ấn Độ có trước Phật giáo.

Bây giờ xét tới hiện trạng xã hội Ấn Độ trước khi Đức Phật ra đời, chúng ta thấy vì những điều kiện quan hệ trên chủng tộc, chính trị và chức nghiệp, tự nhiên mà chia ra bốn chủng tộc riêng biệt, tạo thành chế độ giai cấp của xã hội. Trong đó chủng tộc Bà-la-môn (Brahmana) là phái tăng lữ chủ việc tế tự, chiếm một địa vị tối cao trong bốn chủng tộc. Chủng tộc Sát-đế-lợi (Ksatriya) là chấp chưởng chính quyền, ở vào địa vị thứ hai. Nhân dân phổ thông là chủng tộc Phệ-xá (Vaisya) ở vào địa vị thứ ba. Còn hạng người thổ dân của Ấn Độ bị Nhã-lỵ-an chinh phục là dân tộc Thủ-đà-la (Sudra) chuyên làm nghề nghiệp đê tiện, ở vào địa vị thứ tư.

Giai cấp của bốn chủng tộc đã phân định, trong đó tự nhiên phải có quy luật để duy trì nó. Họ đều quan niệm chủng tộc Bà-la-môn là thần thánh, nhân đó mà người ta chế ra thứ pháp luật Ma-noa (Manu) hỗn hợp cả chính trị và tôn giáo. Nhờ có pháp luật này, tổ chức của Bà-la-môn mới được hoàn thành. Vì giáo lý của đạo ấy là nương vào tư tưởng của phái Phệ-đàn-đa (Vedanda) nên lấy việc duy trì giai cấp của bốn chủng tộc làm mục đích duy nhất.

Trước Đức Thích-ca giáng sanh khoảng hơn 1.000 năm, nghĩa là về thời đại trước Tây lịch kỷ nguyên độ 5-6 thế kỷ, Bà-la-môn được thịnh hành đến cực điểm. Nhưng vì sự độc quyền của phái Tăng lữ và đạo đức tôn giáo của Ấn Độ bấy giờ chỉ có nghi thức phô trương bề ngoài. Hơn nữa, lại vì chế độ giai cấp không công bằng, nhân dân không được tự do rồi đâm ra tư tưởng yếm thế.

Vì lý do trên, một phương diện mê tín hoành hành người ta hy sinh tu theo khổ hạnh; phương diện khác người ta nảy ra tư tưởng hoài nghi mà phủ nhận tất cả tôn giáo, nhân quả và đạo đức. Hơn nữa, người ta lại cổ vũ những tư tưởng phản kháng đồng thời nổi dậy rất lộn xộn, nào là chủ nghĩa yếm thế, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa cảm giác và khoái lạc. Nhưng chỉ có hai phái Tục mạng luận và Thuận thế luận (Lokayata) (3) là được nổi tiếng trong thời đó.

Đồng thời cũng có những nhân vật cao thượng vì trông thấy thời thế càng ngày càng lộ xộn, cho nên họ thoát ly giáo quyền Bà-la-môn tìm một lối sống thanh tịnh để xa lánh cuộc đời. Phong thái này dần dần cũng đắc thế, những kẻ tu tịnh hạnh lại cùng nhau kết đoàn, rồi lập thành đoàn thể một giáo phái. Một bậc tiền bối của Đức Thích-ca là ông Nhã-đề-từ (Nirgrantha) (4) chính là vị giáo tổ của đạo Kỳ-na (Jina) và những đạo sĩ như Bạt-già-bà (Bhargava), A-la-la (Arada Kalama), Ca-lam (Udraka Ramaputra), Uất-đà-la (Udraka Ramaputre) khi Đức Thích-ca xuất gia đến cầu đạo, đều là những bậc thủ lĩnh trứ danh của giáo đoàn ấy.

Tuy nhiên, những tư tưởng lộn xộn của hồi đó cũng là một cơ vận để mở mang một thứ tôn giáo canh tân. Thời đại ấy phải có bậc vĩ nhân xuất hiện để xếp đặt và thống nhất tất cả tư tưởng lộn xộn, đó là lý do Phật giáo ra đời.

(theo bản tóm lược về Phật giáo của Tưởng Duy Kiều biên soạn năm 1958)


Mời quý vị đón đọc phần 2: Nguyên thỉ của Phật giáo

 

No Comments Yet

Comments are closed

Just a simple blog about a married couple.