Đại Cương Triết Học Phật Giáo

Tập Thứ Nhất: Tự Luận

Phần 2: Nguyên Thỉ Của Phật Giáo

Trước Tây lịch kỷ nguyên khoảng 510 năm, Đức Thích-ca Mâu-ni (Sakyamuni, Trung Hoa dịch là Năng Nhân Tịch Mặc) giáng sinh tại nước Ca-tỳ-la (Kapilavastu) thuộc xứ Trung Ấn Độ. Thân phụ Ngài là Tịnh Phạn vương (Suddhodana), thân mẫu là Ma-da phu nhân (Maha-maya) thuộc về chủng tộc Sát-đế-lợi (Ksatriya)

Đức Thích-ca họ là Kiều-đáp-ma (Gautama; Trung Hoa dịch là Địa Tối Thắng), tên là Tất-đạt-đa (Siddhartha; Trung Hoa dịch là Thành Tựu), ngài là bậc bẩm tính thông minh, kiêm toàn cả văn võ. Vì nhận thấy mọi sự vô thường sinh già bệnh chết của kiếp người, nên năm 19 tuổi Ngài từ giã cuộc đời vinh quý mà xuất gia.

Sau khi đã xuất gia, Ngài đi khắp nơi để vấn đạo các nhà tôn giáo trứ danh của thời đó. Các đạo sĩ như Bạt-già-bà, A-la-la, Ca-lam, Uất-đà-la, Ngài đều thân hành đến thỉnh giáo để cầu giải đáp vấn đề nhân sinh. Nhưng rốt cuộc không có đạo sĩ nào thuyết minh được thõa mãn, làm cho Ngài phải thất vọng. Sau đó Ngài mới đến bên mé sông Ni-liên-thiền (Nairanjana) miền đông bắc Ấn Độ, tự tu khổ hạnh sáu năm. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè hạt đậu, thân thể bị gầy ốm mà vẫn không được gì. Nhân đó Ngài mới nhận thấy lối tu khổ hạnh là điều khó nhọc vô ích. Ngài lại đi nữa, đến xứ Phật-đà-già-da (Buddhagaya), dưới gốc cây Tất-bát-la (Pippala) – về sau gọi là cây Bồ-đề – ngồi trên pháp tọa kim cang (Vaijrasana) Ngài phát tâm quả quyết: “Ta nay nếu không chứng được Vô thượng đại bồ-đề thì dù tan nát thân này quyết không khi nào dậy khỏi nơi đây”. Ngài ngồi tĩnh tọa để suy nghĩ … vào khoảng nữa đêm khi sao mai mọc, bỗng nhiên Ngài được đại ngộ và thành Vô thượng Chính Giác (Vô thượng đại-bồ-đề hay Vô thượng Chính giác, đều chỉ cho bậc đã giác ngộ hoàn toàn và chân chính, đó là địa vị Phật-đà).

Nội dung của sự giác ngộ chân chính này giải đáp về vấn đề nhân sinh một cách mỹ mãn. Cách giải đáp ấy gồm có hai yếu điểm như sau:

1 – Già đau chết và mọi điều không tự do của kiếp người do đâu mà có? – Do phiền não, nghĩa là do vô minh (Avidya) mê mờ bản thể chân thực.

2 – Làm thế nào mới giải thoát được những điều không tự do của kiếp người? – Phải có chính kiến, chính đạo để đoạn trừ phiền não.

Đấy là đạo lý căn bản của Phật giáo nguyên thỉ, có thể khái quát tất cả pháp môn Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Bát chánh đạo (5)

Đức Thích-ca sau khi đã chứng được chính giác ấy, thấy rõ tất cả chúng sinh cùng chung một thể bình đẳng, nên Ngài ấp ủ nguyện vọng quyết tìm phương cứu độ và tự nhiên mà đánh tan giai cấp của bốn thứ chủng tộc. Hơn nữa, Ngài lại dùng những quy luật đạo đức rất nghiêm mật mà tiết chế dục vọng để cầu giải thoát; đồng thời Ngài quét sạch tất cả mối tàn tệ của của các chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa khoái lạc của đương thời. Phật giáo vì thế được trở thành một tôn giáo lý trí rất vĩ đại.

Đức Thích-ca ở đời thuyết pháp 49 năm, nhưng do cảm hóa được rất nhiều người vì vậy thế lực của Ngài vượt lên trên Bà-la-môn giáo. Tuy nhiên, Đức Thích-ca chỉ là một vị Tỳ-kheo già có đủ từ bi, trí tuệ, siêng năng thuyết pháp, tùy từng trình độ mà chỉ dẫn chưa từng tổ chức thành giáo nghĩa. Đối với giáo phái khác, Ngài cũng chưa từng có sự công kích. Đối với đệ tử, Ngài hết lòng thân thiện. Hơn nữa, sự sinh hoạt của Ngài thật là thanh đạm nhưng giới hạnh rất tinh nghiêm. Ngài là một người đã áp dụng nhân cách hoàn toàn bình dân và để lại kiểu mẫu cho nhân loại. Cứu đời đến năm 80 tuổi thì Ngài vào niết-bàn (Nirvana, trước Tây lịch kỷ nguyên 430 năm).

Sau khi Đức Thích-ca nhập niết-bàn, đạo của Ngài ngày càng mở rộng. Bên ngoài thì có vua A-dục (Asoka lên ngôi năm 264 trước kỷ nguyên) và vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska, thế kỷ thứ hai Tây lịch) tiếp nhau đề xướng; bên trong thì có các vị đại sĩ Mã Minh (Asvaghosa, thế kỷ thứ nhất Tây lịch), Long Thọ (Nagarjuna, thế kỷ thứ hai Tây lịch) cùng các cao tăng Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu, thế kỷ thứ tư Tây lịch) nối nhau ra đời. Thế lực Phật giáo nhờ đó mà được phổ cập cả toàn cõi Ấn Độ.

Nhưng đến thế kỷ thứ tám Tây lịch, tại miền đại lục Ấn Độ có Thương-yết-la (Sankaracarya) ra đời, cổ vũ nhân dân hướng về tư tưởng thời xưa, phục hưng Bà-la-môn (Brahmanisme) và bài bác Phật giáo. Với lại, khoảng thế kỷ thứ mười hai, giáo đồ Hồi giáo (Mahometisme, Islamisme) xâm nhập Ấn Độ, Phật giáo cũng bị phá hủy. Vì vậy, Phật giáo ở trung nguyên Ấn Độ gần như bị mất tích.

Phật giáo tuy gần mất tích ở Ấn Độ, nhưng đồng thời vẫn được tiến triển ở hai miền Nam và Bắc; không những thế, lại còn trình bày những hiện tượng phát đạt rất đặc biệt.

Phái nam tiến thì truyền qua các nước Tích Lan, Miến Điện, Trảo Oa, Xiêm La và Việt Nam, thông thường gọi là Nam phương Phật giáo. Phái bắc tiến thì truyền qua các nước Tây Vực rồi đến Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, thông thường gọi là Bắc phương Phật giáo.

Phật giáo lưu truyền trãi qua một thời gian thật khá lâu, mất gần mấy nghìn năm. Những địa hạt khắp nơi nam bắc, Phật giáo được phổ cập một cách sâu rộng. Khi đó, vì thích ứng với thời đại, quốc độ, phong tục mà Phật giáo có nhiều sự chuyển biến. Đồng thời cách tổ chức và nội dung của giáo nghĩa cũng rất phong phú. Theo các học giả gần đây đã thống kê, số dân tín đồ Phật giáo tại hai miền nam bắc, nếu đem dân số của toàn thế giới mà tính thì chúng ta thấy Phật giáo đồ đã chiếm hết một phần ba dân số trên thế giới. Đó là một đặc điểm mà các tôn giáo khác không theo kịp. Như thế, chúng ta thử tưởng tượng sự cảm hóa của Phật giáo rộng rãi biết chừng nào!

(theo bản tóm lược về Phật giáo của Tưởng Duy Kiều biên soạn năm 1958)


Mời quý vị đón đọc phần 3: Kinh điển của Phật giáo

 

No Comments Yet

Leave a Reply

Just a simple blog about a married couple.