Đại Cương Triết Học Phật Giáo

Tập Thứ Nhất: Tự Luận

Phần 4: Phân Phái Của Phật Giáo

Khi Đức Phật còn ở đời, tùy từng trình độ cao thấp của mỗi người mà đối cơ thuyết pháp. Thính chúng tuy cùng nghe một thứ giáo lý, nhưng mỗi người lĩnh hội có cao thấp, rộng hẹp bất đồng. Nhân đó, về sau mới có phân biệt giữa Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana).

Chữ thừa (Yana) nghĩa là vận tải. Giáo pháp của Phật-đà là giải quyết vấn đề sinh tử của nhân sinh, có thể vận tải chúng sinh qua khỏi biển sinh tử và đi đến cảnh giới niết-bàn, nên giáo pháp ấy gọi là thừa (vận tải nghĩa là chuyên chở).

Đại tức đại cơ, là bậc trí tuệ ưu thắng, có thể hiểu thấu vô số pháp môn; là hạng chí hướng vững chắc, có thể tu tập trong vô lượng kiếp. Đó là chủng tính Bồ-tát (Bodhisattva).

Tiểu tức tiểu cơ, là người trí tuệ thấp kém, không thể nhận rõ pháp môn cao thượng; là kẻ chí hướng yếu hèn, không thể tu hành một thời gian lâu dài. Đó là chủng tính Thanh văn (Sravaka) và Duyên giác (Pratyeka-buddha).

Đạo pháp Đức Phật nói cho hạng đại cơ là Đại thừa; đạo pháp nói cho hạng tiểu cơ là Tiểu thừa. Hiện giờ kinh điển Đại thừa gọi là Bồ-tát tạng; kinh điển Tiểu thừa gọi là Thanh văn tạng, cũng đồng một ý đó.

Đại thừa, tiếng Phạn gọi là Ma-ha-diễn (Mahayana), đầu tiên tiếng này không phải là một danh từ để đối chọi với Tiểu thừa. Nghĩa của nó chỉ cho các giáo lý cao thâm, là những pháp môn chân thật phổ độ chúng sanh. Vì thế, trong kinh điển Tiểu thừa ta cũng thường thấy danh từ Đại thừa.

Đến như phân biệt Đại thừa và Tiểu thừa, tất nhiên người ta đã có một dụng ý để khen chê, đó là phong trào học tập sau khi các ngài Mã Minh và Long Thọ đã đề xướng Đại thừa giáo. Bây giờ chúng tôi xin trình bày ý nghĩa sai biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa như sau:

1 – Tiểu thừa là hạng tâm lượng hẹp hòi, cần cấp cầu thoát mọi nỗi khổ não sinh tử, chỉ biết độ cho mình nhưng không thể độ cho kẻ khác; Đại thừa là hạng tâm lượng rộng rãi, cương quyết đạt đến lý tưởng tự lợi và lợi tha hoàn toàn. Hơn nữa, họ chỉ lấy việc lợi tha làm chủ đích.

2 – Giải thoát của Tiểu thừa là tiêu cực. Họ muốn lánh khỏi mọi sự khổ ở hiện tại mà thể nhập cảnh giới không tịch, lấy niết-bàn tịch tịnh làm mục đích chung cục; Giải thoát của Đại thừa là tích cực. Họ hiểu rằng phiền não là vốn không, và trong chúng ta có sẵn những công đức thường còn, an vui, tự chủ và trong sạch. Và lấy địa vị Phật-đà hoạt động làn lý tưởng chung cục.

3 – Tiểu thừa chỉ khuynh hướng về nhân sinh quan đa khổ; Đại thừa cũng bắt tay từ quan niệm đau khổ ấy, nhưng họ vẫn thoát ly ngoài nhân sinh quan, được giải thoát tự tại.

4 – Tiểu thừa đối với vạn hữu sai biệt thì hạn cuộc trong phạm vi hiện tượng luận (Phenomenalisme) sinh diệt. Và yếu tố để giải thích của họ cũng chỉ có 75 pháp (7); Đại thừa thì ngoài hiện tượng sai biệt còn thuyết minh chân như bình đẳng bất sinh bất diệt, đề đạt đến bản thể luận (Ontologie). Và yếu tố để giải thích vạn hữu của họ gồm có 100 pháp.

Trở lên, chúng tôi đã toát yếu những điểm sai biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa:

    • Điểm thứ nhất là sự sai biệt về luân lý trong tôn giáo.
    • Điểm thứ hai là sự sai biệt về sự chứng quả trong tôn giáo.
    • Điểm thứ ba là sự sai biệt trên nhân sinh quan.
    • Điểm thứ tư là sự sai biệt trên vũ trụ quan.

Tiểu thừa Phật giáo thời kỳ kết tập lần thứ hai tại Tỳ-xá-ly (Vaisali) đã có sự tranh chấp giữa hai bộ phái Thượng tọa (Sthavira) và Đại chúng (Mahasanghika). Thượng tọa bộ là phái chính thống bảo thủ; Đại chúng bộ là phái tự do tiến thủ. Cả hai phái, bên nào cũng muốn phát biểu tư tưởng của mình, nên việc trước thuật hết sức phong phú và cuối cùng chia thành 18 bộ phái (8). Trên giáo lý của hai phái đó tuy có nhiều điều sai biệt, nhưng điều khác nhau nhất là phái bảo thủ chủ trương về hữu luận; phái tiến thủ chủ trương về không luận. Kết quả của sự phát đạt đó, về hữu bộ thì có Câu-xá-luận;  về không bộ thì có Thành thật luận (Hữu luận là thuyết chủ trương tất cả sự vật đều có thật; Không luận là thuyết chủ trương tất cả sự vật đều không có)

Không những Tiểu thừa là như thế, chính Đại thừa Phật giáo lưu truyền tại Ấn Độ, sự quy kết của nó cũng không nằm ngoài hai phái hữu và không. Những loại sách của hai ngài Mã Minh và Long Thọ đã trước thuật đều thuộc về không luận. Những loại sách của hai ngài Vô Trước và Thế Thân đã trước thuật đều thuộc về hữu luận.

Đại thừa và Tiểu thừa sau khi đã truyền vào Trung Hoa, vì được phát triển về mọi phương diện nên chia thành nhiều phái độc lập, nhưng vẫn không ngoài hai luận thuyết hữu và không.

Tiểu thừa Phật giáo lưu hành ở Ấn Độ rồi truyền đến Trung Hoa thì chưa được thịnh hành lắm. Trái lại, Đại thừa Phật giáo khi sáng lập tại Ấn Độ thì thế lực không bằng Tiểu thừa, nhưng khi truyền đến Trung Hoa thì giáo lý và giáo tướng đều được hoàn bị và thế lực của nó lấn lướt cả Lão giáo và Nho giáo. Đồng thời sự tranh chấp giữa hai phái hữu và không của Đại thừa ở Trung Hoa cũng kịch liệt hơn tiểu thừa.

Từ thế kỷ thứ nhất kỷ nguyên, Phật giáo đã bắt đầu truyền vào Trung Hoa, mãi đến đầu thế kỷ thứ 5, tức là thời kỳ ngài La-thập (Kumarajiva) mới ngưng hoạt động. Bấy giờ tại Ấn Độ là thời đại từ ngài Mã Minh về sau cho đến ngài Thế Thân, và hồi đó kinh điển người ta truyền đến phần nhiều là Tiểu thừa.

Đến giữa thế kỷ thứ 2, thời đại ngài An Thế Cao mới phiên dịch các kinh Đại thừa, nhưng chưa lập thành sự nghiệp của giáo nghĩa. Bắt đầu thế kỷ thứ 5, ngài Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) phiên dịch về Tam luận, không bộ Đại thừa mới được hoàn thành (Không bộ là học phái chủ trương lý thuyết tất cả sự vật đều không)

Đồng thời có ngài Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra) từ Ấn Độ mang các học thuyết hữu bộ là Duy thức và Hoa nghiêm đến Trung Hoa, nhưng vì không đồng ý kiến với ngài La-thập nên bị đồ đệ ngài La-thập bài bác.

Tại Lô Sơn, ngài Huệ Viễn cũng sáng lập hội Bạch Liên, lại chủ trương tọa thiền niệm Phật. Pháo môn niệm Phật là thuộc về hữu bộ. Ngài Phật-đà-bạt-đà-la sau khi bị ngài La-thập đuổi thì đến ở tại Lô Sơn. Sau đó ngài dịch kinh Lục thập hoa nghiêm và đề xướng hữu bộ Đại thừa. Đó là mở đầu của hữu luận và không luận tại Trung Hoa (Hữu bộ là học phái chủ trương lý thuyết tất cả sự vật đều có thật)

Sau ngài La-thập một thời gian ngắn, ngài Đàm-vô-sấm (Dharma-raksa) lại sáng lập giáo phái Niết-bàn. Phái này về sau sáp nhập với giáo phái Thiên Thai và giáo hệ của phái này thuộc về không bộ.

Đầu thế kỷ thứ 6, ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) cũng sáng lập giáo phái Địa luận, về sau phái này sáp nhập với giáo phái Hoa nghiêm và hệ của phái này thuộc về hữu bộ.

Ngài Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) lại sáng lập giáo phái Thiền-na, chủ trương bất lập văn tự, giáo hệ của phái này thuộc về không bộ.

Giữa thế kỷ thứ 6, ngài Chân Đế tam tạng (Paramartha) sáng lập hai giáo phái là Nhiếp luận và Câu-xá-luận, phái Nhiếp luận về sau sáp nhập với giáo phái Pháp tướng, còn phái Câu-xá là phái phụ thuộc của giáo phái ấy, cả hai phái đều thuộc về hữu bộ.

Cuối thế kỷ thứ 6, ngài Trí Khải sáng lập giáo phái Thiên Thai, phát minh lý thuyết Tam đế là không, giả, trung. Nghĩa là ngài đứng ngoài hai bộ phái không và hữu mà thành lập một giáo phái riêng của mình, là thứ giáo nghĩa trung đạo dung hòa cả không và hữu. Tuy nhiên giáo hệ của phái này là do Tam luận mà biến thể, vẫn ở trong phạm vi của không bộ.

Đầu thế kỷ thứ 7, ngài Cát Tạng lại trùng hưng giáo phái Tam luận, không bộ Đại thừa nhân đó mà được phát đạt đến cực điểm.

Ngài Huyền Trang sau khi phiên dịch kinh điển về hữu bộ, cũng thành lập giáo phái Pháp tướng, đệ tử ngài là Khuy Cơ lại sửa sang những luận thuyết của các ngài Hộ Pháp và Giới Hiền bên Ấn Độ, đó là những luận thuyết cực đoan trong hữu bộ Đại thừa.

Cuối thế kỷ trên, ngài Hiền Thủ lại khai sáng giáo phái Hoa nghiêm. Đầu tiên ngài Hiền Thủ đến tại chổ dịch kinh của ngài Huyền Trang để thảo luận, nhưng ý kiến không hợp nhau nên ngài bỏ đi và lập thành giáo phái riêng của mình. Đôi bên cũng đồng trong một hữu bộ, nhưng giáo phái Hoa nghiêm lại phản đối thuyết của giáo phái Pháp tướng và lấy Viên giáo làm một quy tắc cực đoan, đây cũng là phái đề xướng thuyết trung đạo. Nhưng giáo hệ của phái này vẫn không ngoài phạm vi hữu bộ.

Đầu thế kỷ thứ 8, lại có các ngài Thiện Vô Úy (Subhakarasimha), Kim Cang Trí (Vajrabodhi), Bất Không (Amoghavajra) truyền bá Mật giáo vào Trung Hoa, dùng yếu điểm Tam mật là thân, khẩu, ý tương ưng mà tổ chức giáo nghĩa, cũng thuộc về hệ thống hữu bộ.

Tóm lại, hữu bộ và không bộ của Tiểu thừa, hai giáo phái Câu-xá và Thành thật là đại biểu của chúng. Hữu bộ và không bộ của Đại thừa, hai giáo phái Pháp tướng và Tam luận đều đi đến chổ cực đoan. Giáo phái Thiên Thai thì từ không mà tiến đến trung. Hai giáo phái Hoa nghiêm và Mật giáo thì từ hữu mà tiến đến trung. Hai giáo phái Thiền-na và Niệm Phật thì trên phương pháp giải thoát của chúng hoàn toàn đối lập; chổ căn cứ của đôi bên thì phái Thiền-na dựa vào không lý của phái Tam luận, còn phái Niệm Phật dựa vào hữu lý của phái Hoa nghiêm.

Trong Phật giáo còn chia ra hai thứ là Hiển giáo và Mật giáo:

    • Hiển giáo do Phật ứng thân là Đức Thích-ca thuyết pháp, vì trình độ chúng sanh có cao thấp, căn trí có thông dốt, nên ngài tùy từng cơ nghi mà giảng dạy, đó là lối nghị luận phương tiện.
    • Mật giáo do Phật pháp thân là Đức Đại Nhật Như Lai thuyết pháp, khi giảng dạy Ngài dùng toàn chân ngôn bí mật mà tả tượng trực tiếp cảnh giới nội ứng của mình, đó là thứ giáo pháp chân thật.

Tuy nhiên, trong các kinh điển về Hiển giáo cũng vẫn có nhiều chân ngôn (thần chú), đó là Mật nằm trong Hiển; ngoài ra chân ngôn về Mật giáo cũng có kinh văn, đó là Hiển nằm trong Mật. Hơn nữa, phương pháp quán niệm và thiền định của Hiển giáo, phương pháp trì chú và quán tướng của Mật giáo, trên thực chất của chúng hình như cũng không khác nhau lắm. Nếu căn cứ vào bộ phận chủ yếu của chúng mà bàn, thì chúng ta thấy chẳng qua Hiển giáo là khuynh hướng về ngôn thuyết giới hiển lộ; Mật giáo là khuynh hướng về trực quan giới bí mật đó thôi (Hiển giáo là các kinh điển thuyên luận rõ ràng; Mật giáo là các kinh điển diễn tả bằng cách bí mật. Ngôn thuyết giới là phương diện ngôn luận; trực quan giới là phương diện trực giác)

Trong Phật giáo còn có danh từ hai giáo phái là Giáo và Thiền, Vô luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, Hiển giáo hay Mật giáo, nếu dùng văn tự ngôn ngữ của kinh luận mà lập giáo, thì thuộc về Giáo tông. Trái lại, không dùng ngôn ngữ văn tự mà chỉ dùng tâm truyền tâm, nghĩa là theo một thể thức biệt truyền ngoài kinh giáo, không cần văn tự, trực tiếp chỉ bày tâm tính của mọi người, nếu ai giác ngộ được tâm tính ấy là thành Phật, như thế tức thuộc về Thiền tông.

Tuy nhiên, phép thiền định là một pháp môn các kinh giáo đều thông dụng, quyết không phải là thứ sở hữu của giáo phái Thiền-na. Với lại, giáo phái Thiền-na tuy chủ trương không dùng văn tự, nhưng ngài Đạt-ma vẫn dùng kinh Lăng-già để truyền tâm ấn, như vậy cũng chưa phải triệt để bài trừ văn tự. Hơn nữa, các thiền gia hiện giờ mỗi khi tham cứu, người ta cũng vẫn áp dụng văn tự thiền.

Tóm lại, theo Giáo tông, trước hết là khiến người ta nương vào văn tự để tìm hiểu ý nghĩa của nó rồi sau sẽ cầu đạt đến cảnh giới thiền định; trái lại, Thiền tông khiến người ta ly khai văn tự để tiến thẳng tới cảnh giới thiền định. Như vậy, chúng ta thấy chỉ có phương pháp thực hành của đôi bên khác nhau mà thôi (Hết tập thứ nhất)

(theo bản tóm lược về Phật giáo của Tưởng Duy Kiều biên soạn năm 1958)


Mời quý vị đón đọc Tập thứ 2 – Phần 1: Vấn đề giáo lý của Phật giáo

 

No Comments Yet

Comments are closed

Just a simple blog about a married couple.