Đại Cương Triết Học Phật Giáo

Tập Thứ Hai: Bản Luận

Phần 1: Vấn Đề Giáo Lý Của Phật Giáo

1 – Thuyết Duyên Khởi

B. A-lại-da Duyên Khởi

Thuyết Chân không của ngài Long Thọ có tính cách tiêu cực, qua một giai đoạn biến chuyển nó trở thành thuyết diệu hữu của hai ngài Vô Trước và Thế Thân lại có tính cách tích cực. Từ thuyết diệu hữu này lại sản xuất hai thứ khuynh hướng khác nhau: một là thuyết A-lại-da duyên khởi và một là thuyết Chân như duyên khởi.

Nếu khảo sát về thứ tự phát triển của hai thuyết trên thì chúng ta thấy thuyết A-lại-da duyên khởi hoàn thành sau thuyết Chân như duyên khởi. Tiến hơn thuyết Chân như duyên khởi một bước, lại có thuyết Pháp giới duyên khởi, thuyết này sáng lập sau khi thuyết A-lại-da duyên khởi đã hoàn thành (Chân không là lý thuyết chủ trương tất cả sự vật hoàn toàn vắng lặng không có thực thể; Diệu hữu là lý thuyết chủ trương tất cả sự vật đều có nhưng chỉ là giả tạm).

Sở dĩ người ta sáng lập ra thuyết A-lại-da duyên khởi này không ngoài lý do muốn chủ trương chổ sở chấp của phái mình. Cho nên, một mặt họ chỉ trích thuyết Nghiệp cảm duyên khởi của phái Tiểu thừa, một mặt khác họ bài bác thuyết Chân như duyên khởi. Trước hết chúng tôi xin lược thuật lời bình phẩm của phái này đối với thuyết của phái Tiểu thừa. Họ bảo rằng Nghiệp cảm duyên khởi là có sinh diệt và gián đoạn, vì lẽ Tiểu thừa chỉ thành lập có 6 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là những tâm lý sinh diệt vô thường. Như 5 thức trước chỉ do sự kích thích của ngoại giới mà tả tượng vào nội tâm, chúng không có những tác dụng tinh thần phức tạp như đối tỷ, suy luận và truy niệm cảnh quá khứ. Có đủ thứ tác dụng ấy và chiếm một địa vị trọng yếu chỉ có ý thức thứ 6 mà thôi.

Nhưng ý thức cũng là thứ tâm lý có gián đoạn. Ý niệm trước đã qua, ý niệm sau mới đến, không có lúc nào chúng dừng nghỉ. Và khi chúng ta chết rồi thì ý thức cũng tiêu tan. Thế thì cái gì duy trì nghiệp lực ấy, làm cho nó sau khi chúng ta chết vẫn liên tục không gián đoạn?

Vì lý do trên, phái Đại thừa cần phải thành lập thức A-lại-da, một thứ tâm lý luôn luôn sinh khởi và trường tồn, làm cội gốc cho vạn hữu trong vũ trụ. Thức này có thể chứa đựng tất cả chủng tử (hạt giống) của vạn hữu, do đó mà mở mang thành hiện tượng giới có đủ muôn tượng bao la.

Bây giờ chúng tôi xin thuật lời bình phẩm của phái này đối với thuyết Chân như duyên khởi. Họ bảo rằng Chân như (thực tại: Realite) là lý thể của vạn hữu. Lý thể ấy là bình đẳng và đồng nhất. Nó vẫn trường tồn không sanh diệt, cũng không chuyển biến. Nếu thuyết ấy cho rằng lý thể chân như bình đẳng thống nhất có thể duyên khởi ra vạn hữu, thì có nghĩa là trước kia không mà bây giờ mới có, như thế, quyết định không hợp chính lý. Bởi vì các hiện tượng muôn vàn sai khác ấy, tất nhiên phải do muôn vàn chủng tử sai biệt mà sinh ra. Vì lẽ đó, phái này mới thành lập thức A-lại-da, là thứ tâm thức có thể chứa đựng chủng tử của tất cả các pháp, nó nương vào lý thể chân như làm cho chủng tử biến chuyển thành hiện tượng giới.

Phái sáng lập thuyết A-lại-da duyên khởi là giáo phái Pháp tướng, cũng gọi là giáo phái Duy thức. Ngoài 6 thức của phái Tiểu thừa, giáo phái này lập thêm hai thức nữa là Mạt-na (Manas) thứ 7 và A-lại-da (Alaya) thứ 8. Mạt-na có nghĩa là chấp ngã (nhận lầm có cái ta chân thật); A-lại-da nghĩa là hàm tàng (bao trùm chứa đựng) – Trung Hoa dịch là Tàng thức.

Tàng thức này cũng do nhân duyên mà thành. Từ vô số kiếp đến giờ, nó vẫn luôn luôn sinh khởi không có gián đoạn, chứa đựng tất cả mọi chủng tử, nghĩa là nó có đủ khả năng vô hạn để phát hiện ra muôn tượng. Từ chủng tử đó mà phát sinh thân thể của chúng ta, đồng thời chúng cũng biến hiện ra khách quan giới (tức vạn vật) để cho chúng ta cư trú. Đối với những ảnh tượng đã biến hiện ấy, 7 thức trước của chúng ta lại sinh ra nhiều thứ phân biệt, cho nên mới biến thành nhiều hiện tướng: dài, ngắn, vuông, tròn, đỏ, trắng … Đó là ý nghĩa tất cả hiện tượng của khách quan giới tuy có muôn vàn sai khác, nhưng chúng đều do tác dụng tri giác của một ý thức chủ quan bên trong mà phát hiện, nếu không có tri giác thì không có muôn tượng (tri giác là công năng phân biệt nhận thức sự vật).

Tuy nhiên, chúng ta không thể bảo những bản chất (Element) của vạn hữu mà cảm giác đã trực nhận là không có, nghĩa là ngoài các thứ cảm giác về những hiện tượng dài, ngắn, vuông, tròn, đỏ, trắng … không thể nói không có thực tại (Realite) của khách quan. Nhưng bản chất của thực tại đó không ngoài chủng tử chuyển biến trong A-lại-da thức. Bảy thức trước thì duyên tưởng các hiện tượng khách quan của chúng đã biến hiện, khởi lên bao nhiêu tâm niệm phân biệt và chúng huân tập thành chủng tử mới chứa đựng trong thức A-lại-da. Rồi lại do sức huân tập của các nghiệp lành-dữ của thức thứ 6 làm cho chủng tử ấy sinh ra hiện hành. Chủng tử và hiện hành cứ xoay vần, kế tiếp mãi, nên mới mở mang thành vũ trụ mê giới của chúng ta. Đó là chủng tử hữu lậu và thức A-lại-da của chúng ta làm chủ tể cho sinh tử luân hồi (Mê giới là thế giới mê muội).

Nhưng chủng tử về ngộ giới của chúng ta cũng chứa đựng trong thức A-lại-da. Nếu chúng ta nhận rõ sự mê lầm giả tạm của ngoại giới, thì lập tức sinh ra giác ngộ. Đối với các ảnh tượng của ngoại giới chúng ta không sinh tâm mê vọng, dần dần huân tập thành chủng tử vô lậu, chúng ta sẽ được siêu thoát sinh tử. Đó là thức A-lại-da của chúng ta làm chủ tể trong việc siêu phàm và nhập thánh (Ngộ giới là thế giới giác ngộ).

(theo bản tóm lược về Phật giáo của Tưởng Duy Kiều biên soạn năm 1958)


Mời quý vị đón đọc Tập thứ 2 – Phần 1: Vấn đề giáo lý của Phật giáo (tiếp theo) – Thuyết duyên khởi (tiếp theo) – Chân như duyên khởi (bài đang cập nhật)

No Comments Yet

Leave a Reply

Just a simple blog about a married couple.